Đếm nhịp thở
Thay đổi nhịp thở là một trong những dấu hiệu phát hiện được khi có những rối loạn về chức năng hô hấp. Nhịp thở
phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố thay đổi theo tuổi. Vì
vậy đếm nhịp thở là một trong các cách tiếp cận chẩn đoán bệnh lý hô hấp.
Tuy nhiên đếm nhịp thở
cho trẻ nhỏ sẽ cần phải lưu ý vì nhịp thở của trẻ rất dễ bị thay đổi,
đặc biệt là khi có các kích thích bên ngoài. Chẳng hạn như nhịp thở của trẻ sơ sinh trong tuần đầu có thể thay đổi từ 40-50 lần/1 phút và nhìn chung là nếu nhịp thở
dưới 60 lần/ 1 phút thì vẫn ở giới hạn bình thường. Sau những đợt ngừng
thở ngắn, trẻ sơ sinh có thể tăng nhịp thở lên, có co rút lồng ngực và
phập phồng cánh mũi trong một thời điểm nhất định.
Các trẻ lớn bị bệnh phổi hạn chế có thể làm cho nhịp thở nhanh hơn và trẻ thở nông hơn.
Nghe các tiếng thở bằng tai
Bình
thường ta không nghe thấy tiếng thở vào hoặc thở ra của trẻ. Tuy nhiên,
khi trẻ bị một số bệnh ở đường hô hấp ta có thể nghe thấy một số tiếng
thở bất thường bằng tai hoặc bằng ống nghe.
Tiếng thở rên: Là tiếng thở ngắn, phát ra ở thì thở ra, có thể nghe được khi ta ghé sát tai vào miệng trẻ. Tiếng thở này thường gặp ở các trẻ sơ sinh
bị viêm phổi nặng. Khi đó, phổi của trẻ thường có xu thể xẹp lại. Để
chống lại xẹp phổi, trẻ cố gắng giữ lại thêm thể tích cặn chức năng bằng
cách đóng nắp thanh quản lại ở cuối thì thở ra.
Thở rít: Là
tiếng thở phát ra ở thì thở vào, có thể nghe được bằng tai khi quan sát
trẻ thở. Tiếng thở này gặp trong các bệnh có hẹp đường thở trên, đoạn
phía ngoài lồng ngực gây ra do các bệnh như: viêm thanh quản, mềm sụn
thanh quản, dị vật đường thở…
Thở khò khè: Là
tiếng thở phát ra ở thì thở ra, có thể nghe được bằng tai khi ta ghé
sát tai vào miệng trẻ. Tiếng thở này là do tắc nghẽn ở đường hô hấp
dưới, từ phế quản trở xuống, thường gặp trong các bệnh viêm tiểu phế
quản, hen, các khối u hoặc dị dạng mạch máu lớn chèn ép vào phế quản…
Cần phải phân biệt với tiếng thở khụt khịt do tắc mũi do ứ đọng đờm dãi ở
mũi họng. Tiếng thở này thường phát ra ở cả hai thì thở ra và thở vào
và sẽ mất đi khi ta hút sạch dịch ở mũi họng.
Nghe phổi bằng ống nghe
Trẻ bị các bệnh phổi tắc nghẽn
thì nhịp thở thường chậm lại và trẻ thở sâu hơn. Khi bị tắc nghẽn đường
thở ở ngoài lồng ngực (từ mũi đến giữa khí quản) thì thường kéo dài thì
thở vào và có tiếng rít thì thở vào. Khi bị tắc nghẽn đường thở đoạn
nằm ở trong lồng ngực thỉ thở ra thường kéo dài hơn thì hít vào và khi
đó bệnh nhân thường có hiện tượng co kéo cơ hô hấp phụ.
Với các
bác sĩ, nghe phổi bằng ống nghe là biện pháp thăm khám lâm sàng có thể
đánh giá được tiếng thở vào và thở ra xem tiếng thở đó có bị kéo dài ra
không hoặc có nghe được rõ không sẽ đánh giá được luồng khí vào phổi.
Kéo dài thì thở ra khi nghe phổi thường gặp trong các bệnh phổi tắc
nghẽn như hen phế quản hoặc viêm tiểu phế quản. Giảm hoặc mất tiếng rì
rào phế nang khi nghe phổi thường gặp trong các tình trạng tràn dịch,
tràn khí màng phổi, xẹp phổi hoặc trong các tình trạng bệnh quá nặng
hoặc bệnh nhân sắp ngừng thở.
Nghe phổi có thể thấy được các tiếng
rít, ngáy hay gặp trong hen, ran ẩm hay gặp trong viêm phổi, viêm tiểu
phế quản và cả hen nữa.
Nghe phổi bằng ống nghe có thể nghe được tiếng thở rít thì thở vào do tắc nghẽn ở đường hô hấp trên vang xuống nhưng thường thì không rõ bằng khi ta nghe bằng tai và đưa gần tai vào miệng trẻ.
Gõ phổi
Gõ phổi thường trong các bệnh phổi hạn chế và gõ trong ở các bệnh phổi tắc nghẽn.
Gõ phổi sẽ rất khó đánh giá được nếu thực hiện trên trẻ sơ sinh nhẹ cân
vì các tiếng gõ vang ra từ tổ chức phổi bị bệnh sẽ bị lẫn với các vùng
xung quanh.
PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng
Khoa Nhi, BV Bạch Mai
Theo báo SKĐS