Thừa cân - béo phì (TC-BP) là tình
trạng tích lũy mỡ trong cơ thể do hậu quả của sự mất cân bằng năng
lượng, trong đó năng lượng đưa vào vượt quá năng lượng tiêu hao. TC-BP
gặp ở mọi lứa tuổi, kể cả trẻ em và người lớn.
Vì sao trẻ lại bị TC-BP?
Trẻ bị TC-BP là do nhiều nguyên nhân phối hợp, tương tác giữa yếu
tố môi trường và yếu tố di truyền. Nguyên nhân chủ yếu là do dinh dưỡng
bất hợp lý và ít hoạt động thể lực. Khẩu phần năng lượng vượt quá năng
lượng tiêu hao, do đó phần dư thừa được chuyển thành mỡ tích lũy trong
các tổ chức. Chế độ ăn giàu chất béo, đậm độ năng lượng cao có liên quan
chặt chẽ với gia tăng tỷ lệ TC-BP. Ít hoạt động thể lực, giảm hoạt động
(thể dục thể thao, đi bộ, bơi lội, đi xe đạp…); tăng hoạt động tĩnh
(xem vô tuyến, chơi điện tử…) làm giảm tiêu hao năng lượng, tăng tích
lũy mỡ; Rối loạn hoạt động của các hormon.
Hormon tăng trưởng (GH) có liên quan đến hoạt động tiêu mỡ, quá
trình này diễn ra mạnh nhất vào ban đêm khi ngủ, do vậy nếu mất ngủ sẽ
làm giảm tiêu mỡ đồng thời rối loạn quá trình sản xuất các hormon điều
hòa ăn uống, giảm sản xuất leptin giúp não có cảm giác no nhưng tăng sản
xuất ghrelin kích thích thèm ăn nên trẻ ăn nhiều; Ngoài ra, những trẻ
có bố mẹ bị TC-BP, cân nặng sơ sinh quá cao, suy dinh dưỡng thấp còi đều
có nguy cơ TC-BP; Trẻ TC-BP thường háu ăn, ăn nhanh, hay ăn vặt, thích
ăn ngọt, thức ăn nhanh (fast food) làm tăng đường huyết và insulin máu
tạo nên hạ đường máu phản ứng tăng mức độ thèm ăn. Thói quen ăn nhiều
vào buổi tối, ăn khi xem tivi là đặc trưng của trẻ TC-BP.
|
Kiểm soát chế độ ăn và sinh hoạt của trẻ để phòng tránh bệnh béo phì.
|
Ảnh hưởng của TC-BP đến sức khỏe trẻ em
|
Các nghiên cứu của Viện Dinh dưỡng và Trung tâm Dinh dưỡng thành phố
Hồ Chí Minh cho thấy, tại Hà Nội (2003), tỷ lệ TC-BP ở học sinh tiểu học
là 4,1% (1997), tăng lên 7,9% (2002) và ở trẻ từ 4 - 6 tuổi là 4,9%
(2003). Tại thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ TC-BP ở học sinh tiểu học là
12,2% (1997) tăng lên 22,7% (2004) và trẻ dưới 5 tuổi là 2% (1996) lên
3,3% (2001).
|
- TC-BP ở trẻ em có ảnh hưởng nhiều đến tình trạng dinh dưỡng, sức khỏe lâu dài và tuổi thọ.
- Trẻ TC-BP dễ sớm mắc các bệnh mạn tính không lây và kéo dài sau này
như tăng huyết áp, tim mạch, đái tháo đường, rối loạn lipid máu. Nghiên
cứu của Viện Dinh dưỡng ở học sinh tiểu học Hà Nội (2002) cho thấy trẻ
TC-BP có rối loạn lipid máu, 66,7% tăng triglycerid; 10,5% tăng
cholesterol toàn phần; 5,7% tăng LDL-C và 5,7% giảm HDL-C. Tỷ lệ tăng
huyết áp ở trẻ TC-BP là 16,6%, cao hơn có ý nghĩa so với trẻ bình
thường.
- Tuổi dậy thì: sớm hơn nhưng cũng ngừng tăng trưởng sớm. Chiều cao
của trẻ TC-BP trước dậy thì thường cao hơn so với tuổi nhưng khi trưởng
thành lại có xu hướng thấp hơn so với tuổi.
- Béo phì ở trẻ em là béo toàn thân, mỡ tích tụ nhiều ở vùng ngực,
bụng, mông làm cho trẻ hay mệt mỏi, khó thở khi gắng sức, đau âm ỉ ở các
chi.
- Về tâm lý trẻ dễ mặc cảm tự ti, xấu hổ, hay bị bạn bè trêu chọc, cuộc sống khó hòa nhập với cộng đồng, giảm kết quả học tập.
- Chi phí dịch vụ y tế tốn kém ảnh hưởng đến kinh tế gia đình và xã hội.
Làm gì khi trẻ bị TC-BP?
Nguyên tắc chung là điều chỉnh chế độ ăn và tăng cường hoạt động thể lực để hạn chế tăng cân.
Điều chỉnh chế độ ăn: Giảm
bớt chất béo, chất bột đường, bớt gạo thay bằng ngô khoai; Tăng cường
rau quả để cung cấp chất xơ; Giảm đồ ngọt, nước ngọt, bánh kẹo,
chocolat; Chế biến thức ăn dưới dạng hấp, luộc, giảm rán xào; Điều chỉnh
hợp lý khoảng cách giữa các bữa ăn, không để trẻ quá đói; Tuy nhiên chế
độ ăn cần có đủ các chất dinh dưỡng, khẩu phần cân đối để trẻ tiếp tục
tăng trưởng và phát triển, tránh hạn chế ăn uống quá mức, gây thiếu hụt
dinh dưỡng.
Tăng cường hoạt động thể lực:
Tăng các loại hình hoạt động thể lực phù hợp theo từng lứa tuổi để tiêu
hao năng lượng; Giảm bớt thời gian xem ti vi, chơi điện tử. Viện hàn
lâm Nhi khoa Hoa Kỳ khuyến cáo không cho trẻ em dưới 2 tuổi xem ti vi và
chỉ cho trẻ lớn hơn xem ti vi và trò chơi điện tử tối đa 2 giờ/ngày;
Việc điều trị bằng thuốc và phẫu thuật hiện chỉ áp dụng cho người lớn.
Dự phòng TC-BP ở trẻ em
TC-BP liên quan đến dinh dưỡng là một bệnh có thể phòng tránh được
bằng dinh dưỡng hợp lý song song với hoạt động thể lực phù hợp. Đối với
trẻ nhỏ, cần chăm sóc tốt cho trẻ ngay từ trong bào thai để tránh thiếu
hoặc thừa dinh dưỡng ở trẻ sơ sinh. Cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6
tháng đầu, bú kéo dài đến 2 năm và ăn bổ sung hợp lý giúp trẻ tăng
trưởng và phát triển tối đa; Đối với trẻ lớn hơn và vị thành niên thì ăn
uống cần đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng, khẩu phần năng lượng không nên
vượt quá cao.
Khuyến khích trẻ ăn rau và hoa quả, hạn chế sử dụng thức ăn giàu
năng lượng, nghèo vi chất dinh dưỡng, đồ uống có đường, nước ngọt có ga
đồng thời động viên trẻ tham gia các hoạt động thể dục thể thao, sinh
hoạt điều độ, hạn chế xem ti vi, chơi điện tử, thức quá khuya; Điều quan
trọng là nâng cao kiến thức thực hành dinh dưỡng hợp lý trong cộng đồng
và cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa y tế và giáo dục, giữa gia đình và
nhà trường trong việc kiểm soát chế độ ăn và sinh hoạt của trẻ.
PGs.BS. Đào Ngọc Diễn